English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Search Search
Các đề tài đang triển khai

1. Nhiệm vụ môi trường : "Điều tra đánh giá ô nhiễm nước trong hệ thống thủy lợi vùng triều khu vực đồng bằng Bắc bộ và đề xuất giải pháp"

Chủ nhiệm : Nguyễn Văn Lợi

Năm : 2010

 

2. Đề tài : "Nghiên cứu giải pháp đảm bảo cấp nước mùa kiệt các hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Hồng"

Chủ nhiệm : Nguyễn Văn Dân

Năm : 2009-2010

 

3. Đề tài : "Đánh giá hiện trạng và nghiên cứu đề xuất giải pháp vận hành các cống lấy nước vùng triều thuộc hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trong bối cảnh suy giảm nguồn nước và biến đổi khí hậu"

Chủ nhiệm : Nguyễn Mạnh Hùng

Năm : 2009 - 2010

 

4. Đề tài : "Tổng kết đánh giá hiện trạng 10 năm lũ hồ chứa khu vực miền Trung, Tây Nguyên và đề xuất giải pháp vận hành điều tiết hồ chứa giảm ngập lụt cho vùng hạ du các lưu vực sông"

Chủ nhiệm : Nguyễn Văn Hùng

Năm : 2010-2011

 
5. Đề tài: "Nghiên cứu xây dựng đê biển an toàn cao theo hướng hài hòa với môi trường sinh thái"

Chủ nhiệm: Nguyễn Viết Tiến

Năm: 2011-2012

 

Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực ổ bão tây bắc Thái Bình Dương với đường bờ biển dài, tỷ lệ giữa đường bờ biển so với diện tích lục địa là rất lớn. Do vậy hệ thống đê biển của nước ta cũng đã được hình thành từ rất sớm, là minh chứng cho quá trình chống chọi với thiên nhiên không ngừng của người Việt Nam. Hệ thống đê biển đã được xây dựng, bồi trúc và phát triển qua nhiều thế hệ với vật liệu chủ yếu là đất và đá lấy tại chỗ do người địa phương tự đắp bằng phương pháp thủ công.Được sự quan tâm của nhà nước hệ thống đê biển nước ta đã được đầu tư khôi phục và nâng cấp nhiều lần thông qua các dự án PAM 4617, OXFAM, EC, CARE, ADB, và các chương trình đê biển quốc gia, tuy nhiên các tuyến đê biển nhìn chung vẫn còn thấp và nhỏ. Đê biển miền bắc thuộc loại lớn nhất cả nước tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định. Một số tuyến đê biển đã được nâng cấp hiện nay có cao trình đỉnh phổ biến ở mức + 5,5 m (kể cả tường đỉnh). Mặt đê được bê tông hóa 1 phần, nhưng chủ yếu vẫn là đê đất, sình lầy trong mùa mưa bão và dễ bị xói mặt.Mặc dầu có lịch sử lâu đời về xây dựng đê biển nhưng phương pháp luận và cơ sở khoa học cho thiết kế đê biển (thể hiện qua các tồn tại và bất cập trong các hướng dẫn thiết kế đê biển trước đây như 14TCN-130-2002) ở nước ta còn lạc hậu, chưa bắt kịp với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới. Bên cạnh đó phương pháp và công nghệ thi công đê biển còn chậm tiến bộ, ít cơ giới hóa. Gần đây trong khuôn khổ các đề tài thuộc “Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng đê biển và công trình thủy lợi vùng cửa sông ven biển” (Giai đoạn I từ Quảng Ninh đến Quảng Nam) thực hiện năm 2008-2009, các tiến bộ mới trong kỹ thuật thiết kế và xây dựng đê biển ở trên thế giới đã được nghiên cứu áp dụng với điều kiện cụ thể của nước ta. Trong đó đặc biệt là khái niệm sóng tràn lần đầu tiên được xem xét là một tải trọng quan trọng nhất trong tính toán thiết kế đê biển và đã được đưa vào Hướng dẫn thiết kế đê biển mới thay cho tiêu chuẩn ngành 14TCN-130-2002. Trong phạm vi đề tài nhánh “Nghiên cứu, đề xuất mặt cắt ngang đê biển hợp lý với từng loại đê và phù hợp với điều kiện từng vùng từ Quảng Ninh đến Quảng Nam”, các thí nghiệm sóng tràn qua đê biển trên mô hình vật lý máng sóng ở Trường ĐH Thủy Lợi đã chứng tỏ việc áp dụng các phương pháp tính toán sóng tràn tiên tiến đang được áp dụng phổ biến hiện nay trên thế giới như TAW (2002) cho điều kiện ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp (xem Tuan và nnk, 2009). Đề tài cũng đã đề xuất được phương pháp tính toán thiết kế cùng với các dạng mặt cắt đê biển điển hình phù hợp cho từng vùng địa phương trong khu vực nghiên cứu. Bên cạnh đó, được sự giúp đỡ của các chuyên gia Hà Lan trong khuôn khổ dự án phối hợp nâng cao năng lực đào tạo ngành Kỹ thuật Biển ở Trường Đại học Thủy Lợi, lần đầu tiên một máy xả sóng đã được chế tạo tại Việt Nam với mục tiêu thử nghiệm đánh giá khả năng chịu sóng tràn của đê biển nước ta. Từ năm 2008 cho đến nay đã có 02 đợt thực nghiệm hiện trường máy xả sóng với một số đê biển ở các tỉnh Hải Phòng (2008) và Nam Định (2010) và tập trung ở một số dạng mặt cắt ngang đê biển điển hình, đặc biệt là với đê biển có mái trong trồng cỏ. Kết quả thí nghiệm cho thấy một số loại cỏ bản địa mọc trên đê biển ở nước ta (Nam Định) mặc dù không được nôi trồng chăm sóc nhưng vẫn có sức kháng chống xói đến ngạc nhiên (mái cỏ Gà mọc tự nhiên có chất lượng từ xấu đến vừa vẫn có thể chịu được lưu lượng sóng tràn trung bình lên đến 40 l/s/m trong 6 giờ, xem WRU/CE, 2010). Sức kháng này tương đương với mái đê phía đồng lát bê tông kết hợp trồng cỏ Vetiver đã thí nghiệm ở Hải Phòng. Tương tự như các kết quả thí nghiệm hiện trường ở Hà Lan, vị trí xung yếu nhất vẫn là ở chân đê phía đồng nơi có sự chuyển tiếp địa hình từ mái dốc sang phương ngang. Gần đây việc nghiên cứu áp dụng một số công nghệ vật liệu mới như Consolid, kết cấu neo địa kỹ thuật,.. nhằm gia tăng ổn định của đê biển hiện có cũng đã được đề cập đến ở một số đề tài nghiên cứu cấp bộ và nhà nước, điển hình như KC.08 15/06-10 “Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ đảm bảo sự ổn định và độ bền của đê biển hiện có trong trường hợp sóng, triều cường tràn qua đê” (xem Ngô Trí Viềng, 2010). Mặc dù vậy khái niệm đê an toàn cao thân thiện với môi trường vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta và chưa có công trình nghiên cứu áp dụngNhư vậy có thể thấy rằng tuy là muộn nhưng việc áp dụng và cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới vào công tác xây dựng đê biển ở nước ta đã có những bước tiến đáng khích lệ. Tuy nhiên cần phải đẩy mạnh hơn nữa những công trình nghiên cứu khoa học để áp dụng một cách hiệu quả các thành tựu này vào trong điều kiện thực tiễn đặc thù của hệ thống đê biển nước ta....
  

Bấm vào đây để tải file toàn văn

 

Về đầu trang
eurowindow facebook
hiểu đúng về eurowindow
eurowindow tuyển dụng
eurowindow khai trương căn hộ